Tuesday, June 26, 2007

Tăng tốc shut down trong Windows Vista

Xác định nguyên nhân làm chậm việc shut down Khi shut down, Windows Vista tốt hơn Windows XP trong việc ngưng các chương trình đang thực hiện. Tuy nhiên, đôi lúc việc shut down vẫn diễn ra thật chậm. Nếu muốn biết nguyên nhân gây ra sự chậm trễ này, bạn có thể sử dụng công cụ Performace Information and Tools trong Control Panel. Bạn vào Control Panel\ Performance Information and Tools, chọn Advance tools ở khung bên trái, một bảng tương tự hình 1 hiện ra. Bạn chú ý đến phần Performance issues. Nếu thấy thông báo “Programs are causing Windows to shut down slowly. View details”, bạn nhấn vào dòng này để biết những chương trình khiến Windows shut down chậm. Như trong hình 2, Windows phải mất 113 giây để đóng lại ứng dụng Microsoft Office Word. Để khắc phục, bạn nên đóng lại ứng dụng này sau khi sử dụng xong.


Hình 1


Hình 2

Giảm thời gian shut down

Càng nhiều ứng dụng được cài vào Windows càng khiến máy tính mất thời gian để shut down. Khi shut down, Windows đóng lại các dịch vụ đang thực hiện. Nếu sau một khoảng thời gian xác định, Windows chưa đóng được dịch vụ nào thì sẽ yêu cầu người dùng tự tay đóng lại dịch vụ đó. Bằng cách giảm khoảng thời gian này, công việc shut down diễn ra nhanh chóng hơn.

Bạn vào menu Start\ Run, nhập vào “regedit” rồi nhấn OK để mở chương trình Registry Editor, tìm đến khóa “[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control]”. Bạn sửa giá trị “WaitToKillServiceTimeout” thành 5000 hoặc một số bất kỳ (hình 3). Mặc định, giá trị này là 20000 mili giây (20 giây). Bạn không nên giảm giá trị này xuống dưới 5 giây vì điều đó khiến máy tính shut down lập tức, dễ đưa đến việc mất dữ liệu.


Hình 3

Thiết lập chức năng shut down cho nút Power Trong Windows Vista, chức năng mặc định của nút power (nằm tại menu Start) là sleep. Chức năng sleep không mấy cần thiết và ít được sử dụng. Bạn có thể thay đổi chức năng nút bấm này thành shut down. Khi đó, muốn tắt máy, bạn chỉ việc nhấn vào nút power. Bạn vào Control Panel\ Power Options, nhấn vào liên kết Change Plan Settings, rồi chọn Change Advanced Power Settings, hộp thoại Power Options sẽ được mở. Trong hộp thoại này, bạn tìm đến mục Power button and lid. Tại đây, bạn có thể thay đổi các tùy chọn: - Power button action: thiết lập chức năng cho nút power (trên thùng máy). - Start menu power button: thiết lập chức năng cho nút power ở menu Start, trong trường hợp này chọn “Shut down” (hình 4).


Hình 4

Tạo shortcut để shut down

Trong Windows Vista, bạn cũng có thể tạo shortcut để shut down như trong Windows XP. Bạn chỉ việc nhấn vào shortcut này, việc shut down sẽ được tiến hành. Bạn nhấn chuột phải trên màn hình desktop, chọn New\ Shortcut.
Ở phần “Type the location of the item”, bạn nhập vào nội dung “%windir%\System32\shutdown.exe -s”, trong đó, tham số “-s” có ý nghĩa shut down máy tính.
Hai tham số sau có thể dùng tiếp theo tham số “-s”:
- “-f”: đóng lại các dịch vụ đang thực hiện mà không cảnh báo người dùng.
- “-t xx”: xác định thời gian chờ trước khi shut down là xx giây. Chẳng hạn dòng lệnh sau sẽ tiến hành shut down lập tức: “%windir%\System32\shutdown.exe -s -f -t 00” (hình 5).


Hình 5

Monday, June 25, 2007

Cài đặt Windows XP trên máy tính đã có Windows Vista

Sau một thời gian chuyển qua sử dụng Windows Vista với niềm hứng thú trước những tiện ích nổi trội do hệ điều hành này mang lại, tôi nhận ra rằng tại thời điểm hiện nay, tôi chưa thể dứt bỏ hoàn toàn Windows XP. Windows XP vẫn đang là hệ điều hành phổ biến nhất. Để có mối tương tác tốt trong thế giới thông tin số, tôi vẫn cần đến Windows XP. Chắc hẳn nhiều bạn sẽ đồng ý với tôi ở điểm này. Giải pháp “vẹn cả đổi đường” cho trường hợp trên là sử dụng song song hai hệ điều hành Windows Vista và Windows XP trên cùng một máy tính (nếu bạn có hai máy tính thì… quá ổn rồi, mỗi máy tính sẽ sử dụng một hệ điều hành, không còn vấn đề gì nữa) và sẽ chọn lựa hệ điều hành sử dụng mỗi khi khởi động. Lưu ý tình huống gặp ở đây là chúng ta đã cài đặt xong và đang sử dụng Windows Vista, nay cần cài đặt thêm Windows XP. Chuẩn bị :
- Đĩa cài đặt Windows XP và Windows Vista.
- Sao lưu các dữ liệu quan trọng trên đĩa cứng.
- Thiết lập thiết bị khởi động ưu tiên 1 là ổ đĩa CD-ROM/ DVD-ROM (thiết lập trong CMOS).
Bước 1: Phân vùng đĩa cứng Windows Vista cung cấp một công cụ phân vùng đĩa cứng rất tốt, vì vậy chúng ta sẽ sử dụng công cụ có sẵn này mà không cần đến Partition Magic hay một phần mềm nào khác.
- Bạn vào menu Start, nhấn chuột phải trên mục Computer, chọn Manage để mở cửa sổ Computer Management, chọn Disk Management trong phần Storage (hình 1).
- Nhấn chuột phải trên phân vùng chính (primary partition) dùng khởi động và có cài đặt Windows Vista (hình 1 - trong ví dụ này là phân vùng ổ đĩa C), chọn Shrink Volume. Mục đích của chúng ta là chia phân vùng hệ thống này thành hai phân vùng, một để cài đặt Windows Vista và một để cài đặt Windows XP.


Hình 1

- Tiếp theo, bạn xác định kích thước cho phân vùng sắp tạo (phân vùng dùng cài đặt Windows XP) rồi nhấn nút Shrink (hình 2). Bộ Windows XP đầy đủ tốn khoảng 1,5 GB, vì vậy phân vùng này nên có kích thước nhỏ nhất khoảng 3 - 4 GB. Nếu bạn có một ổ đĩa cứng dung lượng lớn thì cũng nên tạo không gian thoải mái cho phân vùng này.


Hình 2

- Trở lại cửa sổ Computer Management, bạn nhấn chuột phải trên phân vùng mới tạo, chọn New Simple Volume để tạo ổ đĩa trên phân vùng này (hình 3). Bạn lần lượt khai báo các nội dung như dung lượng ổ đĩa, ký tự đại diện cho ổ đĩa, định dạng ổ đĩa (NTFS hay FAT32), tên ổ đĩa (tôi đặt tên cho ổ đĩa là “XP”)…, cũng không mấy phức tạp. Xong xuôi, bạn sẽ thấy bảng tóm tắt thông tin về ổ đĩa sắp tạo ra (hình 4). Khi thấy mọi thông số phù hợp, bạn nhấn nút Finish để hoàn thành.


Hình 3


Hình 4

- Cũng trong cửa sổ Computer Management, bạn có thể nhấn chuột phải trên các ổ đĩa, chọn Change Driver Letter and Paths để thiết lập lại các ký tự ổ đĩa theo ý mình.

Bước 2: Cài đặt Windows XP - Bạn đưa đĩa cài đặt Windows XP vào ổ đĩa CD-ROM/ DVD-ROM và khởi động lại máy tính, tiến hành cài đặt như bình thường. Lưu ý là ở phần xác định nơi cài đặt Windows XP, bạn chọn ổ đĩa vừa được tạo ra ở bước 1. Các thông tin như dung lượng ổ đĩa, tên ổ đĩa là những yếu tố giúp bạn xác định chính xác nơi cài đặt Windows XP. - Trong bước này, bạn sẽ gặp một trong hai tình huống sau: * Tình huống 1: Bạn cài đặt Windows XP mà không gặp một trở ngại nào. Sau khi hoàn tất việc cài đặt Windows XP, máy tính khởi động lại, nhưng bạn không thấy menu cho phép chọn lựa hệ điều hành để sử dụng, mà sẽ vào thẳng Windows XP. Windows XP đã cài đặt phần khởi động của mình vào phân vùng MBR (Master Boot Record) nên Windows Vista không còn khởi động được. Trong Windows XP, bạn vẫn thấy được ổ đĩa chứa Windows Vista và có thể can thiệp vào các file trên đó. Tuy nhiên, bạn không nên can thiệp vào dữ liệu của Windows Vista mà nên tiếp tục thực hiện bước 3. * Tình huống 2: Sau khi copy những file cần thiết cho việc cài đặt, Windows XP khởi động lại và tiếp tục cài đặt với giao diện đồ họa. Tuy nhiên, khi khởi động lại, bạn không thấy giao diện đồ họa và cũng không tiếp tục cài đặt được nữa mà chỉ bắt gặp thông báo “A disk read error occurred - press Ctrl-Alt-Del to continue”. Bạn đừng lo lắng, hãy tiếp tục thực hiện bước 3.

Bước 3: Khôi phục Windows Vista - Sau bước 2, bạn tiếp tục thực hiện bước 3 cho dù gặp tình huống 1 hay tình huống 2 trong bước 2. Bạn đưa đĩa cài đặt Windows Vista vào ổ đĩa CD-ROM/ DVD-ROM và khởi động lại máy tính. Chương trình cài đặt Windows Vista được tiến hành. Tuy nhiên, bạn không chọn Install now mà chọn Repair your computer (hình 5).


Hình 5

- Bạn được yêu cầu chọn hệ điều hành cần sửa chữa (thực sự trong danh sách chỉ có Windows Vista). Bạn chọn Microsoft Windows Vista và nhấn Next để tiếp tục (hình 6).


Hình 6

- Trong hộp thoại System Recovery Options, bạn chọn Startup Repair (hình 7) để sửa chữa phần khởi động của Windows Vista. Xong xuôi, bạn nhấn nút Finish. Máy tính sẽ khởi động lại với hệ điều hành Windows Vista.


Hình 7

- Trong một số trường hợp, chọn Startup Repair không có tác dụng, khi khởi động lại sẽ vào Windows XP hoặc gặp thông báo “A disk read error occurred - press Ctrl-Alt-Del to continue”. Khi đó, bạn thực hiện lại bước 3, nhưng tại cửa sổ System Recovery, bạn chọn Command Promt (hình 7) thay vì chọn Startup Repair. Trong cửa sổ Command Promt, bạn lần lượt đánh hai dòng lệnh: “Bootrec.exe /fixMBR” (rồi nhấn Enter) và “Bootrec.exe /fixBoot” (rồi nhấn Enter) (hình 8). Sau đó bạn gõ lệnh “Exit”, nhấn Enter để trở về cửa sổ System Recovery, nhấn nút Restart để khởi động lại máy tính.


Hình 8

Bước 4: Tạo menu chọn lựa khi khởi động Lúc này, cả hai Windows đều có thể hoạt động, nhưng bạn sẽ chỉ vào được Windows Vista. Vì vậy, chúng ta sẽ tiến hành tạo menu cho phép chọn lựa hệ điều hành để sử dụng khi khởi động. Để làm việc này, bạn có thể sử dụng ứng dụng "Boot Configuration Data Store Editor" (file bcdedit.exe) của Windows (bất tiện là phải gõ những câu lệnh dài) hoặc những phần mềm có sẵn như VistaBootPRO (địa chỉ http://www.vistabootpro.org/) hay EasyBCD (địa chỉ download http://neosmart.net/dl.php?id=1). Tôi sẽ giới thiệu cách tạo menu khởi động qua phần mềm EasyBCD.
- Bạn download, cài đặt phần mềm EasyBCD (miễn phí, kích thước 721 KB) và gọi thực hiện ứng dụng này. Bạn nhấn nút Add/Remove Entries. Trong phần Add and Entry, bạn chọn thẻ Windows. Bạn chọn Windows NT/2k/XP/2k3 trong mục Version, chọn ổ đĩa cài đặt Windows XP trong mục Drive, điền vào “Microsoft Windows XP” trong mục Name rồi nhấn nút Add Entry và nhấn nút Save (hình 9). Xong xuôi, bạn thoát khỏi chương trình EasyBCD và khởi động lại máy tính.


Hình 9

- Bây giờ, khi khởi động máy tính, bạn sẽ thấy xuất hiện menu cho phép chọn Windows Vista hoặc Windows XP để sử dụng (hình 10). Bạn hãy thử xem, có phải cả hai hệ điều hành đều hoạt động trôi chảy theo sự lựa chọn của bạn không? Thật tuyệt vời!


Hình 10

- Đến đây, hẳn các bạn gặp tình huống 2 trong bước 2 sẽ vội vàng phản đối: “Tôi đã hoàn thành cài đặt Windows XP đâu, làm sao có thể sử dụng được nó?”. Không thành vấn đề, Windows XP có khả năng ghi nhớ đã cài đặt đến đâu để tiến hành cài đặt tiếp theo. Tại menu khởi động, bạn chọn “Microsoft Windows XP” và hệ điều hành này được tiếp tục cài đặt. Sau khi hoàn tất việc cài đặt Windows XP, bạn đã có thể sử dụng song song Windows XP và Windows Vista trên cùng một máy tính.
- Loại bỏ Windows XP Nếu bạn thấy không cần thiết sử dụng Windows XP nữa và muốn loại bỏ nó khỏi máy tính thì thực hiện như sau: - Dùng EasyBCD xóa nội dung “Microsoft Windows XP” khỏi menu khởi động (chọn “Microsoft Windows XP”, nhấn nút Delete).
- Xóa ổ đĩa: vào phần Disk Management trong Computer Management (nhấn chuột phải trên Computer, chọn Manager), nhấn chuột phải trên ổ đĩa cài đặt Windows XP, chọn Delete Volume.
- Xóa phân vùng: nhấn chuột phải trên phân vùng của ổ đĩa vừa xóa, chọn Delete Partition.

* Nới rộng phân vùng hệ thống: nhấn chuột phải trên ổ đĩa C (phân vùng hệ thống của Windows Vista), chọn Extend Volume để mở hộp thoại Extend Volume Wizard, cho biết dung lượng mở rộng thêm cho ổ đĩa C rồi nhấn nút Next (hình 11) để tiến hành nới rộngphân vùng hệ thống từ phần dung lượng mới lấy lại của Windows XP.


Hình 11

Thế đấy, bạn đã có thể sử dụng cả Windows Vista và Windows XP trên cùng một máy tính chỉ sau vài thao tác không mấy phức tạp. Chúc bạn thực hiện thành công.

Saturday, June 23, 2007

Phòng thủ căn bản cho PC

Internet thật hấp dẫn nhưng cũng không thiếu những cạm bẫy nguy hiểm. Phòng bệnh hơn chữa bệnh vì thế thiết lập tường thành phòng thủ ngay từ đầu là điều vô cùng cần thiết, nhất là đối với các money makers online như chúng ta.

Luôn ghi nhớ ko có một hệ thống nào 100% an toàn .Mặc dù đây là lời cảnh báo ,nhưng những chương trình này sẽ giảm khả năng bị tấn công một cách đáng kể. Bỏ qua bất kể hạng mục an ninh nào đều có thể đặt dữ liệu và thông tin cá nhân của bạn vào tình trạng vô cùng nguy hiểm. Hãy bắt đầu xây pháo đài của chúng ta! (Các phần mềm dưới đây hoàn toàn free).

Xây dựng tường thành vững chãi (Zone Alarm, Comodo Firewall)

ZoneAlarm trao cho bạn quyền điều khiển chương trình được cho phép ra vào kết nối mạng. Nếu bạn muốn có một nền tảng phòng vệ mạnh mẽ , bạn cần những bước tường thành vững chãi để “cấm cửa” đám “giặc xâm lăng” bên ngoài “thành”. Hàng rào phòng thủ chống lại những kẻ tấn công tiềm tàng đầu tiên chính là một chương trình tường lửa “khỏe”! Với một soft tường lửa tốt bạn có thể kiểm soát mọi luồng thông tin ra/vào máy tính của bạn. Một trong những chương trình free tốt nhất là ZoneAlarm . Sau khi đã nạp soft này vào máy, bạn sẽ có môt sự bảo vệ thương trực khỏi các mối đe dọa. Thực tế là, trong khi sử dụng ZoneAlarm ,phần lớn kẻ đột nhập đột kích “thành” của bạn phải hỏi xin phép bạn để đi tiếp. Một khi bạn đã “luyện tập” cho ZoneAlarm chấp nhận các kết nối thông thường (như dịch vụ chat hay trình duyệt Web) , bạn sẽ chỉ được thông báo khi nào đám “người xấu” đến “gõ cửa”.

Note: Không nên tin tưởng vào firewall có sẵn của winXP. Nó chỉ có thể kiểm soát phần nào thông tin vào PC của bạn và hầu như vô dụng với các thông tin ra từ PC của bạn. Quá tệ! Như vậy nếu có lỡ dính spyware thì nó tha hồ gửi thông tin về cho hackers, điều này là không thể nếu như bạn dùng Zone Alarm. Còn nếu bạn dùng Vista thì không có vấn đề gì Firewall Vista hoạt động rất hiệu quả lại khá nhẹ nên không cần thiết phải cài firewall của hãng thứ ba nếu máy của bạn chỉ đạt cấu hình minimum với yêu cầu của Vista.

Coi chừng “điệp viên hai mang”: (Ad-Aware, Spypot Search & Destroy)

Ad-Aware liên tục update definition để “vạch trần” những kiểu tấn công mới nhất của malware. Một trong những phần còn lại mà bạn muốn biết khi cố gắng giữ cho pháo đài an toàn chính là về các hoạt động bất hợp pháp của “gián điệp” chuyển thông tin cho đám “giặc” quỷ quyệt. Để không cho spyware “luồn lách” vào máy tính của bạn, bạn cần phải kiểm soát các “viên chức” (và các file) một cách thường xuyên và kỹ càng. Tìm ra tất cả spyware trên máy tính quả là một nhiệm vụ khó khăn, vì vậy chúng tôi khuyên bạn dùng cùng lúc hai chương trình cho việc này. Luôn luôn dẫn đầu trong hạng mục Antispyware là Ad-Aware SE Personal Edition. Sau khi chương trình này được cài đặt và update đúng cách, bạn có thể quét hệ thống để tìm gián điệp và loại bỏ chúng khỏi máy. Nhưng hàng rào phòng thủ của bạn không nên dừng ở đây. Do các hãng phát triển Antispyware update các definitions của họ tại các thời điểm khác nhau, cách tốt nhất là quét thêm một hoặc vài lần nữa để phòng nhỡ ra còn các dấu vết bị bỏ qua. SpyCatcher Express 2006, Microsoft Windows Defender, hoặc McAfee AntiSpyware, tất cả đều là những lựa chọn đáng tin cậy. Với một lịch quét và loại bỏ các mối đe dọa từ spyware sử dụng ít nhất 2 chương trình đều đặn, bạn có thể an tâm rằng không có “gián điệp” lén lút nào qua được mắt bạn.

Cảnh giác với “dịch bệnh” (AVG Anti-virus)

Khi mà “dịch bệnh” hay một con virus tấn công pháo đài của bạn thì bạn đã có sự chuẩn bị cho một trận đánh “ác liệt” và sẵn sàng thiết lập một khu vực cách ly. Ở đây có một nguyên tắc chuẩn rất quan trọng và cần tuân thủ là không download email attachments hoặc file không rõ nguồn gốc, nhưng chỉ cái đó vẫn chưa đủ. Cách hiệu quả nhất để tránh virus là sử dụng một chương trình Antivirus update thường xuyên. Cùng với công cụ Antispyware, chương trình Antivirus cần được update để giữ được sự hiệu quả.

Nói về một chương trình Antivirus tốt và free, chúng tôi khuyên dùng AVG Anti-Virus Free Edition. Sau một lần quét khởi đầu với AVG để tìm ra các áp lực đe dọa tức thì, thiết lập một lịch làm việc đều đặn ngay trong chương trình để chắc chắn rằng không có con virus mới nào xâm nhập pháo đài của bạn. Tiện ích Email Scanner và Resident Shield của công cụ này hoàn chỉnh hàng phòng thủ của pháo đài chống các loại virus đáng ghét.

Đưa quân trinh sát đi thám thính (SiteAdvisor)


SiteAdvisor cảnh báo bạn về các site khả nghi thông qua thanh tình trạng (status bar) trong trình duyệt của bạn và thông qua các trang kết quả từ những search engines nổi tiếng (Google, Yahoo, MSN…).

Có vẻ như sau khi pháo đài của bạn xây xong, bạn thấy đã an toàn rồi, đúng không? Không nhanh đến vậy đâu! Một yếu tố chủ đạo trong việc phòng tránh các mối đe dọa tiềm tàng là phải cẩn thận suy xét :bạn sẽ download cái gì và nên vào xem website nào.Trong khi bạn biết rằng Download.com luôn đưa ra những nội dung an toàn, vậy còn các site mà bạn chưa bao giờ đặt chân vào hoặc chẳng biết chắc có an toàn hay không? Hãy dùng thử SiteAdvisor , một add-on hữu dụng cho trình duyệt Internet Explorer hay Firefox của bạn. Nó cho bạn biết các thông tin bên trong site ngay cả khi bạn chưa ghé thăm trang đó. Sử dụng một hệ thống phân biệt bằng màu sắc (color-coded system), nó thông báo cho bạn về một site an toàn (màu xanh),site cần thận trọng khi dùng (màu vàng), hoặc site nguy cơ nguy hiểm cao (màu đỏ). SiteAdvisor cũng thêm các cảnh báo và thông tin về site trong quả bóng màu ngay sau kết quả tìm kiếm của Google hay bất kỳ site tìm kiếm thông dụng nào khác, vì vậy bạn sẽ có thể dễ dàng phát hiện các mối đe dọa trước khi chúng thâm nhập pháo đài của bạn.

*Xin lưu ý là thời điểm bài này được đăng trên Download.com (bản Tiếng Anh), SiteAdvisor chưa được hãng bảo mật McAfee mua lại. Bây giờ tên đầy đủ của soft này là McAfee SiteAdvisor.

Pháo đài đã hoàn thành !
Trong khi không có bộ phần mềm nào là hoàn hảo, thiết lập hệ thống an ninh cơ bản cho PC trở nên đơn giản rất nhiều với 6 chương trình trên. Chúng tôi khuyên bạn nên xây dựng một hệ thống hoạt động tốt để canh gác chống lại các mối đe dọa tiềm tàng đã được vạch ra trong các bài trên. Nếu bạn luôn để mắt tới việc update và quét thường xuyên,
”thành trì” PC của bạn sẽ là một nơi trú ngụ an toàn cho cả bạn lẫn các dữ liệu yêu quý.

Nguồn: Softvnn